Luận về biếu tặng – Hình thức và lý do của sự trao đổi trong các xã hội cổ sơ PDF. In Email
Thư Viện - Thư mục sách
Thứ sáu, 22 Tháng 1 2016 21:11

I. THÔNG SỐ SÁCH:

Tên sách: Luận về biếu tặng – Hình thức và lý do của sự trao đổi trong các xã hội cổ sơ

Tác giả: Marcel Mauss

Dịch giả: Nguyễn Tùng

Khổ sách: 12x20 cm

Số trang: 496 trang

Giá bìa: 120.000 VNĐ

Loại sách: Bìa mềm, tay gập

Tủ sách: Tủ sách Tinh hoa

Năm xuất bản: 2011

Tái bản: 9/2012

II. GIỚI THIỆU SÁCH

1. Tác giả:

Marcel Mauss (1872-1950) là nhà xã hội học người Pháp, người học trò, người cháu của Émile Durkheim. Ông thường được coi là “cha đẻ của ngành nhân học Pháp” với bài viết nổi tiếng đăng trên Année sociologique (Năm xã hội học): Luận về biếu tặng.Lĩnh vực hoạt động và nghiên cứu của ông đi giữa ranh giới của xã hội học và nhân học. Những phân tích của Marcel Mauss về ma thuật, sự hi sinh và biếu tặng có nhiều ảnh hưởng đối với nhiều nhà xã hội học, nhà nhân học sau này, đặc biệt là Claude Lévi-Strauss.

2. Tác phẩm:

Luận về biếu tặng (1925) là tác phẩm thuộc hàng kinh điển của Marcel Mauss. Trong cuốn sách nhỏ này, ông đã lập luận rằng những món quà không bao giờ “miễn phí”. Lịch sử của con người là lịch sử của những lần trao đổi quà tặng qua lại, và điều này vượt qua mọi ranh giới giữa vật chất và tinh thần. Món quà, ngoài giá trị của chính nó, còn bao hàm nhiều giá trị khác như về danh dự, địa vị, thậm chí còn giống như một sự thách thức đối với người nhận quà. Chính mối quan hệ giữa món quà và người tặng đã tạo ra nghĩa vụ “đáp trả” của người nhận.

3. Dịch giả:

Nguyễn Tùng, sinh năm 1944, được đào tạo về dân tộc học và triết học tại Đại học Sorbonne (Paris). Ông từng dạy về ngôn ngữ và văn minh Việt Nam tại Đại học Paris VII, và từng làm việc gần 40 năm tại Trung tâm nghiên cứu Khoa học Quốc gia. Ông là tác giả của nhiều bài nghiên cứu bằng tiếng Pháp và tiếng Việt về dân tộc học Việt Nam, là chủ biên của cuốn Mông Phụ, một làng ở đồng bằng sông Hồng, NXB Văn hóa thông tin, Hà Nội, 2002. Ông cũng là người tham gia dịch cuốn Nền đạo đức tin lành và tinh thần của chủ nghĩa tư bản, Max Weber, NXB Tri thức, 2008.

4. Mục lục

Chú giải từ vựng

Vài ghi chú của người dịch

Lời người dịch

Claude Lévi-Strauss: Dẫn nhập vào sự nghiệp nghiên cứu  của Marcel Mauss

Florence Weber: Hướng đến một dân tộc chí về các cung ứng không thông qua thị trường

DẪN NHẬP: Về sự biếu tặng, và đặc biệt về sự bắt buộc phải đáp tặng các món quà

CHƯƠNG MỘT: Các quà tặng được trao đổi và sự bắt buộc phải đáp tặng (Polynesia)

I - Cung ứng toàn bộ, tài sản của anh em cùng mẹ đối lại với tài sản của nam giới (ở Samoa)

II - Tinh thần của đồ vật được biếu (Maori)

III - Các chủ đề khác: Sự bắt buộc phải tặng và nhận quà

IV - Nhận xét: Quà tặng cho người và quà tặng cho thần linh

CHƯƠNG HAI: Sự lan rộng của hệ thống này: Hào phóng, danh dự, tiền tệ

I - Các quy tắc của sự hào phóng. Người Andaman (hãy chú ý)

II - Các nguyên tắc, các lý do và cường độ của các trao đổi quà tặng (Melanesia)

III - Tây Bắc Mỹ: Danh dự và tín dụng

CHƯƠNG BA: Tàn dư của các nguyên tắc nói trên trong các luật lệ cổ và các nền kinh tế cổ

I - Luật về người và luật về vật (luật Roma rất cổ)

II - Luật Ấn Độ cổ điển

III - Luật Germany (thế chấp và biếu tặng)

CHƯƠNG BỐN: Kết luận

I - Kết luận về luân lý

II - Kết luận về xã hội học kinh tế và kinh tế chính trị học

III - Kết luận về xã hội học đại cương và về đạo đức học

Thư mục 1: Các công trình của Marcel Mauss

Thư mục 2: Các công trình nghiên cứu về Marcel Mauss

Thư mục 3: Các tư liệu do Marcel Mauss trích dẫn trong LVBT

---------------

5. Bình luận sách:

Luận về biếu tặng (1925) của Marcel Mauss có lẽ là công trình nổi tiếng và khó hiểu bậc nhất trong ngành nhân học xã hội. Nó hấp dẫn người đọc đến mức nhà nhân học lừng danh Claude Lévi-Strauss đã phải thú nhận: “Ít người có thể đọc Luận về biếu tặng mà không cảm thấy cả loạt cảm xúc mà Malebranche đã miêu tả khi nhắc đến lần đầu tiên khi ông đọc Descartes: tim đập mạnh, đầu nóng lên, và tinh thần bị xâm chiếm bởi một xác tín còn chưa rõ lắm, nhưng mãnh liệt, là mình đang chứng kiến một sự cố quyết định của tiến triển khoa học”.

Cũng theo Lévi-Strauss, ảnh hưởng của Mauss không phải chỉ giới hạn trong các nhà dân tộc chí mà không người nào có thể nói rằng mình thoát khỏi, mà còn tác động đến các nhà ngữ học, tâm lý học, sử học về tôn giáo và các nhà Đông Phương học. Lévi-Strauss cũng nhận ra vài âm vang như thế nơi nhiều nhà nhân học Anh-Mỹ lớn như Radcliffe-Brown, Malinowski, Evans-Princhard, Firth, Herkovits, Lloyd Warner, Redfield, Kluckhohn, Elkin, Held.

Mục đích của văn bản nhằm cho thấy sự tồn tại, tính phổ biến và sự phức tạp của hiện tượng chuyên biệt này thông qua một nghiên cứu dân tộc chí so sánh về các đảo và các duyên hải của Thái Bình Dương (Polynesia, Melanesia, Tây-Bắc châu Mỹ) cũng như trong các nền pháp luật Ấn-Âu cổ (Roma, Ấn Độ, Germany).

(Trích Lời người dịch, Luận về  biếu tặng, Marcel Mauss)

 

Luận về biếu tặng: ẩn ngữ của những món quà

Trong quan hệ giữa người với người, quà tặng mang thật nhiều dáng vẻ: có thể bằng hiện vật, nhưng cũng có thể là ánh mắt, nụ cười, là sự chú ý, quan tâm hay là tình yêu vô điều kiện: “Tình đã cho không lấy lại bao giờ” (Xuân Diệu).

Việc biếu tặng có thể diễn ra giữa những người xa lạ hay nặc danh như trong hành vi tương tế hoặc cả khi thi ân bất cầu báo. Nhưng, là hiện tượng xã hội, biếu tặng thường mang ba yếu tố: trao tặng, tiếp nhận và đáp tặng, cần được xem xét trong một hệ thống phức hợp và đa diện.

Marcel Mauss (1872 - 1950), nhà nhân học và dân tộc học hàng đầu người Pháp, bậc thầy của những tên tuổi lừng danh như Claude Lévi-Strauss, Radcliffe-Brown v.v. trong công trình kinh điển Luận về biếu tặng (1925), đã dựa vào các nghiên cứu dân tộc chí, dẫn ta vào cuộc du hành thật kỳ thú của hành vi biếu tặng từ những xã hội cổ sơ, thông qua các nền văn minh cổ đại (Hy - La, Ấn Độ, Trung Hoa, Giécmanh…) và từ đó, suy nghĩ về những ảnh hưởng của nó đến xã hội hiện đại. Trong các hình thức giao lưu không thông qua thị trường, có những bộ lạc cổ sơ (như trên quần đảo Trobriand ở Melanesie, châu Phi) sử dụng quà tặng như phương tiện cho một mục đích, đó là tạo ra và duy trì các mối dây liên kết xã hội. Quà tặng, trong trường hợp này, là một yếu tố trong toàn bộ hệ thống những cung ứng hỗ tương, bởi người ta không chỉ biếu tặng nhau những vật phẩm quý báu mà cả tri thức, nghi lễ, nhảy múa… Mauss gọi đó là “hệ thống của những cung ứng toàn diện”, hay gọn hơn, sự tận hiến. Hệ thống “tận hiến” bao hàm ba nghĩa vụ bắt buộc: tặng quà, nhận quà (sự từ chối đồng nghĩa với chia rẽ, thù địch) và nhất là đáp tặng. Tại sao phải đáp tặng? Đây chính là chìa khóa bí mật duy trì hệ thống: quà tặng chưa tách rời với người tặng, trái lại nó mang một phần “linh hồn” khiến việc đáp tặng trở thành một nghĩa vụ luân lý, thậm chí tín ngưỡng, tạo nên sự cố kết xã hội và tinh thần. Nói theo ngôn ngữ ngày nay, ở đây chưa có sự tha hóa giữa người và vật.

Ở các bộ lạc khác (như ở vùng tây bắc châu Mỹ), người ta đến với nhau không phải để tranh giành vật phẩm mà để… tặng quà cho nhau một cách phung phí nhằm chứng tỏ sự giàu có. Thậm chí, họ tự tay phá hủy những tặng phẩm quý giá để làm “nản lòng” các bộ lạc khác, và càng phung phí bao nhiêu - đến mức kiệt quệ! - càng được kính trọng bấy nhiêu. Một đẳng cấp giữa các bộ lạc được hình thành thông qua hành vi này, và Mauss xem đây là hình thức cực đoan của hệ thống tận hiến. Các hệ thống ấy, nhìn chung, tuy không phải là hoàn toàn vô vị lợi, nhưng rõ ràng họ hiểu chữ lợi ích khác với chúng ta ngày nay.

“Ít người có thể đọc Luận về biếu tặng mà không cảm thấy cả loạt cảm xúc mà Malebranche đã miêu tả khi nhắc đến lần đầu tiên khi ông đọc Descartes: tim đập mạnh, đầu nóng lên, và tinh thần bị xâm chiếm bởi một xác tín còn chưa rõ lắm, nhưng mãnh liệt, là mình đang chứng kiến một sự cố quyết định của tiến triển khoa học.” - Claude Lévi-Strauss

Nền văn minh Hy - La phá vỡ hình thức giao lưu “phi kinh tế” này khi bắt đầu phân biệt giữa con người và đồ vật, tách rời việc biếu tặng với mua bán. Hệ thống tận hiến không còn phù hợp với đà phát triển của thị trường, thương mãi và sản xuất, hay nói khác đi, nó bắt đầu phải nhường chỗ cho tiến trình tha hóa giữa người và vật. Tuy nhiên, khi mở rộng các quan sát trên đây vào xã hội hiện đại, Mauss khá hài lòng khi thấy rằng con người ngày nay vẫn chưa hoàn toàn bị biến thành những “con vật kinh tế”, bởi vẫn còn đó những dấu vết của tinh thần “tận hiến”: những hình thức tiêu xài rộng rãi, hệ thống tương trợ và phúc lợi xã hội, những nỗ lực vô vị lợi, sự gắn bó giữa con người và sản phẩm như trong nhiều hoạt động sáng tạo nghệ thuật và văn hóa. Tất nhiên, ta đồng thời không thể quên những hình thức ngụy trang ranh ma: đằng sau những lời đường mật, những món quà viện trợ hậu hĩnh là những lưỡi bò, lưỡi rắn tham lam, hiểm độc. Không phải ngẫu nhiên khi cùng một gốc từ nguyên với nghĩa là “cho”, từ “gift” có nghĩa là “quà tặng” trong tiếng Anh, lại có nghĩa là “độc dược” trong tiếng Đức và nhiều tiếng Bắc Âu khác!

Là nhà khoa học nghiêm túc, đồng thời là một chiến sĩ xã hội, Marcel Mauss tin (và chúng ta muốn tin cùng ông) rằng xã hội sẽ ngày càng tiến bộ khi con người hiện đại, thông qua giáo dục, sẽ biết đi tìm hạnh phúc và sự tốt lành nơi những điều đơn giản như hòa bình, đức công bằng, sự tương kính và lòng hào hiệp.

Công trình kinh điển này được dịch và xuất bản trong tủ sách Tinh Hoa của NXB Tri Thức bởi một dịch giả đầy thẩm quyền: nhà dân tộc học Nguyễn Tùng, người được đào tạo tại chính cái nôi của nền nhân học và dân tộc học Pháp và đã làm việc lâu năm trong chuyên ngành này ở trung tâm Nghiên cứu khoa học Pháp./.

Bùi Văn Nam Sơn

Luận về biếu tặng của Marcel Mauss

Trần Hữu Quang

TÓM TẮT

Cuốn Luận về biếu tặng của Marcel Mauss là một công trình “khảo cổ học về bản chất của các giao dịch của con người” nhằm đi tìm những chiều kích nhân văn vốn tồn tại trong các mối quan hệ trao đổi giữa các cộng đồng cổ sơ. Khái niệm “sự kiện xã hội tổng thể” cũng như lối tiếp cận lý thuyết từ quan điểm của người bản địa của Mauss đã tạo ra một thứ hệ hình mới mẻ, dẫn đến một bước ngoặt quan trọng trong tư duy khoa học xã hội trong thế kỷ 20, và cho đến tận ngày nay vẫn còn tiếp tục gây ra cả sự hứng thú lẫn sự tranh luận trong nhiều công trình nghiên cứu nhân học và xã hội học.

Marcel Mauss (1872-1950), người được coi là cha đẻ của ngành nhân học Pháp và một trong những nhà sáng lập của ngành nhân học, đã nghiên cứu về hiện tượng trao đổi (échange) trong các xã hội nguyên thủy và xã hội cổ sơ thông qua các hành vi biếu tặng (don) và đáp tặng (contre-don) trong cuốn sách nổi tiếng Luận về biếu tặng (LVBT). Bản gốc tiếng Pháp mang tên là Essai sur le don. Forme et raison de l’échange dans les sociétés primitives, in lần đầu tiên trong tập san L'Année sociologique (Nouvelle série, Tome I) năm 1923-1924, sau đó được in lại trong cuốn Sociologie et anthropologie cũng của Marcel Mauss (Paris, PUF, 1950, tr. IX-LII).
Công trình thường được coi là cuốn sách gối đầu giường này của giới nhân học, dân tộc học và xã hội học vừa được dịch ra tiếng Việt bởi nhà dân tộc học Nguyễn Tùng, một nhà nghiên cứu từng làm việc gần 40 năm trong Trung tâm nghiên cứu khoa học quốc gia Pháp (CNRS).  Đây là một bản dịch nghiêm túc, trung thành, với văn phong sáng sủa và dễ đọc.
Công trình này của Mauss bao gồm những phần sau đây : Dẫn nhập (Về sự biếu tặng, và đặc biệt về sự bắt buộc phải đáp tặng các món quà), Chương 1 (Các quà tặng được trao đổi và sự bắt buộc phải đáp tặng), Chương 2 (Sự lan rộng của hệ thống này : hào phóng, danh dự, tiền tệ), Chương 3 (Tàn dư của các nguyên tắc nói trên trong các luật lệ cổ và các nền kinh tế cổ), và Chương 4 (Kết luận). Ngoài ra, đáng chú ý là ấn bản tiếng Việt của nhà xuất bản Tri thức còn có bài của Claude Lévi-Strauss (Dẫn nhập vào sự nghiệp nghiên cứu của Marcel Mauss) và bài của Florence Weber (Hướng đến một dân tộc chí về các cung ứng không thông qua thị trường), do dịch giả Nguyễn Tùng chọn lọc và dịch.
Trao đổi là hoạt động chuyển nhượng vật phẩm giữa các tác nhân xã hội. Các vật phẩm này có thể là vật chất hay phi vật chất, con người hay động vật, đồ vật hay ngôn từ. Các tác nhân tiến hành sự trao đổi có thể là cá nhân, nhóm, cộng đồng hay các vị thần linh (chẳng hạn khi cúng tế cho thần linh). Sự trao đổi là một hiện tượng phổ quát, bao trùm cuộc sống xã hội loài người : không ai không trao đổi trong cuộc sống, từ những xã hội nguyên thủy cho tới những xã hội hiện đại.
Cuốn LVBT, theo lời của Marcel Mauss, là một công trình “khảo cổ học về bản chất của các giao dịch của con người” (tr. 178),  nhằm đi tìm câu trả lời cho hai câu hỏi sau đây : “Trong các xã hội cổ sơ, quy tắc luật lệ và quy tắc lợi ích nào làm cho sau khi nhận một món quà thì phải đáp tặng bằng một món quà khác ? Trong đồ vật mà người ta biếu, có sức mạnh nào bắt người nhận nó phải đáp tặng cho người đã biếu ?” (tr. 178-179).
Trao đổi và khế ước, biếu tặng và đáp tặng
Dựa trên nhiều kết quả khảo sát dân tộc học, đặc biệt là của Franz Boas (1858-1942) về tập tục potlatch của người da đỏ vùng Bắc Mỹ và của Bronislaw Malinowski (1884-1942) về tập tục kula ở quần đảo Trobriand (Melanesia), Mauss nhận xét rằng hành vi biếu tặng và đáp tặng nhìn bề ngoài thì mang tính chất tự nguyện, vô vụ lợi, nhưng thực ra là bó buộc và vụ lợi. Người ta có bổn phận phải biếu tặng, phải đón nhận quà tặng, và phải đáp tặng, thường là với mức “lãi nặng”, tức là quà đáp tặng thường nhiều hơn so với quà tặng ban đầu. Từ chối một món quà là một sự xúc phạm, đôi khi bị coi là lời tuyên chiến. Nguyên tắc có qua có lại (tương hỗ, réciprocité) làm cho quà tặng hầu như lúc nào cũng mang tính ràng buộc.
Mauss cho rằng sự trao đổi nơi các xã hội cổ sơ “hoàn toàn không ở vào trạng thái tự nhiên về mặt luật lệ cũng như về mặt kinh tế” như nhiều nhà nghiên cứu lầm tưởng (tr. 182-183). Trong các xã hội ấy, “không phải các cá nhân, mà chính các tập thể bắt buộc lẫn nhau, trao đổi và giao ước” (tr. 183), hay nói cách khác, những sự trao đổi này diễn ra trong khuôn khổ của những định chế nhất định, phụ thuộc vào những khế ước  nhất định. “[C]ái mà họ trao đổi, không hoàn toàn chỉ là của cải, vật quý giá, động sản và bất động sản, những đồ vật hữu ích về kinh tế. Trước hết đó là các lời nói và cử chỉ lễ phép, tiệc tùng, nghi thức, nghĩa vụ quân sự, phụ nữ, trẻ em, nhảy múa, lễ hội, chợ phiên (...) ở đó sự lưu thông của cải chỉ là một trong các điều khoản của một hợp đồng tổng quát và bền vững hơn rất nhiều” (tr. 184-185). Mauss gọi toàn bộ những hiện tượng này là “hệ thống cung ứng toàn bộ” (système des prestations totales) (tr. 185).
Theo Mauss, những tập tục như potlatch của các bộ tộc da đỏ vùng Bắc Mỹ hay kula ở Melanesia đều là những “tổng thể phức tạp (complexus) về kinh tế, pháp lý và tinh thần” (tr. 248), trong đó những hành vi tặng và đáp tặng mặc dù mang hình thái biếu tặng nhưng thực tế đã mở ra những hình thức trao đổi của cải và vật phẩm giữa các cộng đồng bộ tộc. Mauss đã dịch sang tiếng Pháp đoạn phân tích của Bronislaw Malinowski : “Tất cả đời sống bộ lạc chỉ là một chuỗi ‘cho và nhận’ [give and take] không bao giờ dứt ; mọi lễ lạt, mọi hành vi hợp pháp và theo tục lệ đều chỉ được làm với một món quà vật chất và món quà đáp tặng lại [gift and counter gift] đi kèm theo chúng ; của cải được cho và được nhận là một trong các công cụ chính của tổ chức xã hội, của quyền lực của người thủ lĩnh, của liên hệ thân tộc do huyết thống và các liên hệ thân tộc do hôn nhân” (tr. 264) (chỗ nhấn mạnh là do chúng tôi, T.H.Q.).
Đặc điểm của nền kinh tế thị trường cổ sơ
Điểm độc đáo xuất sắc của Mauss là đã nhận diện ra những loại hình kinh tế thị trường thời cổ sơ trong đó người ta lưu thông các vật phẩm và lương thực mà không cần thông qua sự buôn bán hay sử dụng tiền tệ.
Hai ngôn ngữ Papuasia và Melanesia của một số bộ lạc chỉ có một từ duy nhất để nói mua và bán, cho vay và vay.  “Những người này không có ý niệm về [việc] bán cũng như về [việc] cho vay và tuy thế vẫn làm các thao tác pháp lý và kinh tế có cùng chức năng” (tr. 273).
Hệ thống wasi ở Melanesia (cũng tương tự như hệ thống kula) là một hệ thống kinh tế lưu thông và trao đổi vật phẩm mà không thông qua những hình thức và nguyên tắc của nền kinh tế thị trường thời hiện đại. “[Quan hệ của các wasi] thiết lập những trao đổi đều đặn, bắt buộc giữa các đối tác thuộc những bộ lạc nông nghiệp một bên và bên kia, các đối tác thuộc những bộ lạc ở dọc theo bờ biển. Người nông dân liên minh đem sản phẩm của mình đến đặt trước nhà của người đối tác làm nghề chài lưới. Người này, một lần khác, sau một mẻ cá lớn sẽ trả lại với lãi nặng cho làng làm nông bằng cá tôm mà anh ta đánh bắt được. Chính cùng hệ thống phân công lao động đó mà chúng ta đã nhận thấy ở New Zealand” (tr. 264-265).
Mauss đưa ra một nhận xét súc tích đáng chú ý như sau : “Người Melanesia có một nền kinh tế bên ngoài gia đình và một hệ thống trao đổi rất phát triển với nhịp hoạt động có lẽ mạnh và dồn dập hơn so với hệ thống trao đổi của nông dân hay của các làng chài ở các vùng duyên hải của phương Tây cách đây có lẽ chưa đến trăm năm. Họ có một đời sống kinh tế trải rộng ra, vượt quá biên giới của các hải đảo và của các phương ngữ, một nền thương mại quan trọng. Thế nhưng, họ thay thế hoàn toàn hệ thống mua bán bằng các sự biếu tặng lẫn nhau” (tr. 272) (chúng tôi nhấn mạnh, T.H.Q.).
Trên cơ sở đó, Mauss phê phán những xu hướng phiến diện và vị lợi (utilitariste) trong các lý thuyết kinh tế học và luật học vốn thường quan niệm một cách sai lầm về các nền kinh tế cổ sơ và đề cao một cách máy móc những lôgic của nền kinh tế thị trường hiện đại vốn chỉ mới xuất hiện gần đây trong lịch sử loài người, và quy giản con người chỉ là những “con vật kinh tế” (tr. 284, 429).
Cái “hau” hay sức mạnh của đồ vật
Một chiếc “chìa khóa” quan trọng (tr. 201) để hiểu được cái “sức mạnh” trong đồ vật khiến người nhận quà tặng bó buộc phải đáp tặng cho người đã biếu mình, theo Mauss, chính là khái niệm “hau” (một từ của người Maori). Sở dĩ người ta buộc phải đáp tặng (do vậy quà tặng và của cải được lưu chuyển/lưu thông từ cộng đồng này sang cộng đồng khác) là do đồ vật có cái “hau” của nó, chứ đồ vật không phải là thứ vô hồn, vô tri vô giác.
Chúng ta có thể hiểu “hau” như cái hồn của đồ vật, hay thực ra là một phần hồn của người biếu tặng, vốn thường cũng là người đã chế tác ra đồ vật này. “Ngay cả khi bị người biếu từ bỏ, đồ vật vẫn là cái gì đó của anh ta. (...) cái hau muốn trở về nơi nó sinh ra, về với thánh địa của rừng và của thị tộc và về với người chủ sở hữu. (...) cần phải đáp tặng cho người khác cái gì vốn là một mảnh của bản chất và thực thể của người đó ; vì nhận cái gì của ai chính là nhận cái gì thuộc về bản thể tâm linh và linh hồn của người đó ; sự giữ lại đồ vật đó có thể sẽ nguy hiểm và có thể gây chết chóc...” (tr. 203-207).
Sự kiện xã hội tổng thể
Một trong những công lao của Mauss là đề xướng ra khái niệm sự kiện xã hội tổng thể (fait social total),  trong khi nhà xã hội học Émile Durkheim, người cậu của Mauss, mới chỉ dừng lại ở khái niệm “sự kiện xã hội”. Nói đến một sự kiện xã hội tổng thể là nói rằng sự kiện này nằm trong một tổng thể (totalité), tức là nó mang tính đa chiều kích (kinh tế, văn hóa, pháp lý, đạo đức, tôn giáo, thẩm mỹ…) (tr. 178), nó “làm chuyển động” (mettent en branle) cả tổng thể xã hội và các định chế của xã hội này (xem khái niệm quan trọng này ở trang 434-437).
Chúng ta có thể lấy một thí dụ để minh họa cho khái niệm này : hành vi mua/bán chẳng hạn, không chỉ là hành vi kinh tế thuần túy, mà cần được coi như bao hàm nhiều chiều kích nữa như pháp lý, văn hóa, phong tục, tâm lý, ngôi thứ xã hội...
Về mặt phương pháp luận, Claude Lévi-Strauss cho rằng, đối với Mauss, sở dĩ sự kiện xã hội mang tính tổng thể còn là do “bản thân người quan sát cũng là bộ phận của sự quan sát của anh ta” (tr. 54). Lévi-Strauss diễn giải rằng cách tiếp cận của Mauss đã vượt qua sự lưỡng phân giữa chủ thể và khách thể, giữa người quan sát và đối tượng quan sát, vì một lý do quan trọng là trong khoa học xã hội, “đối tượng mà chúng nghiên cứu đồng thời cũng là chủ thể” (tr. 54). Lévi-Strauss giải thích lối tiếp cận này của Mauss như sau : “Để hiểu được một cách đúng đắn một sự kiện xã hội, cần phải nắm bắt nó một cách tổng thể, tức là [nắm bắt] từ bên ngoài và xem nó như là một vật, nhưng như là một vật mà sự nắm bắt chủ quan (có ý thức hay vô ý thức) mà chúng ta có được về nó là một bộ phận gắn liền với nó [tức vật này, T.H.Q.], nếu, với tư cách tất yếu là con người, chúng ta trải nghiệm sự kiện như là dân bản địa thay vì quan sát nó như là nhà dân tộc chí” [chúng tôi nhấn mạnh, T.H.Q.].
Những cách đọc khác nhau và ý nghĩa gợi mở của LVBT
Mặc dù nhìn nhận công lao to lớn của Mauss qua cuốn LVBT này là “khai trương một kỷ nguyên mới cho các khoa học xã hội” cũng tương tự như ngành âm vị học đối với ngành ngữ học (tr. 67), hay như công trình của Descartes từng làm cho “tim đập mạnh, đầu nóng lên” như thể “đang chứng kiến một sự cố quyết định của tiến triển khoa học” (tr. 63), nhưng Lévi-Strauss trách cứ Mauss là dường như vẫn chưa đi đến cùng trong việc khai thác những khám phá của mình (tr. 67), còn “do dự và đắn đo” (tr. 73).
Tuy vậy, Lévi-Strauss vẫn nhìn nhận Mauss “chủ yếu có lý” trong lập trường phương pháp luận của mình, theo lời Lévi-Strauss : “Lý thuyết bản địa ở trong một quan hệ với thực tại bản địa trực tiếp hơn rất nhiều so với một lý thuyết được lập ra từ các phạm trù và các vấn đề của chúng ta” (tr. 73). Nói cách khác, Mauss đã chọn con đường tiếp cận và phân tích xuất phát từ, và dựa trên cơ sở của những quan niệm, cách hiểu, và lôgic của chính người bản địa để đi đến chỗ xây dựng một lý thuyết khoa học, chứ không phải dựa trên những phạm trù và khái niệm có sẵn trong giới học thuật Tây phương của mình để áp đặt vào thực tại bản địa.
Theo Florence Weber, do LVBT là một thứ work in progress (một công trình đang tiến hành) (F. Weber, tr. 96), nên người ta có thể có nhiều cách đọc khác nhau đối với công trình này. Có tác giả như nhà xã hội học Pháp Pierre Bourdieu đã đưa ra một cách đọc bi quan, cho rằng bổn phận phải đáp tặng và nhất là khoảng thời gian giữa lúc biếu tặng với lúc đáp tặng thực ra phản ánh mối quan hệ thống trị khi nó “che đậy bạo lực đó dưới bề ngoài hào phóng không tính toán” (F. Weber, tr. 118).
Nhưng cũng có cách đọc lạc quan mà chúng tôi cho rằng người điển hình chính là... tác giả Mauss ! Mặc dù Mauss đã nêu ra những nhận xét chính xác về những tính chất lừa dối (fiction), nặng hình thức bề ngoài (formalisme), và sự dối trá xã hội (mensonge social) của hành vi biếu tặng trong những tình huống nhất định (tr. 178), và mặc dù chính ông cũng nói đến hiện tượng từ “gift” trong những ngôn ngữ Giéc-manh cổ vừa có nghĩa là quà tặng (như chữ gift trong tiếng Anh), vừa có nghĩa là chất độc (như chữ Gift trong tiếng Đức) (tr. 398-399), hay quan niệm của người An Nam cho rằng nhận quà tặng là điều nguy hiểm (tr. 401), nhưng ở phần kết luận, Mauss vẫn đi đến những nhận xét đề cao tính nhân văn trong các tập tục biếu tặng và đáp tặng của các xã hội cổ sơ và khuyến cáo con người của xã hội hiện đại cần biết cách trở về với tinh thần cổ sơ (tr. 413).
Về mặt thực tiễn, đóng góp to lớn của Marcel Mauss qua cuốn LVBT là đã dẫn đến chỗ vượt qua quan niệm từ thiện và bố thí trong các chính sách xã hội và góp phần hình thành nên hệ thống bảo hiểm xã hội hiện đại ở Pháp (F. Weber, tr. 99).
Về mặt học thuật, theo đánh giá của nhà sử học Pháp Marc Bloch, cuốn LVBT thực sự là một cuộc cách mạng lý thuyết vì đã giúp cho các nhà sử học và các nhà xã hội học kể từ nay có thể cộng tác được với nhau (F. Weber, tr. 98).
Với khối lượng tư liệu đa dạng và những nhận xét sắc sảo, cuốn LVBT đã mở ra nhiều ý tưởng phong phú thúc đẩy nhiều trào lưu nghiên cứu khác nhau cho đến tận ngày nay về bản chất của các hiện tượng trao đổi, khế ước, quà tặng, về các mối liên hệ giữa ứng xử cá nhân với cấu trúc xã hội, về chiều kích xã hội của các hiện tượng kinh tế trong các cấu hình xã hội khác nhau…
TPHCM, ngày 6-6-2011
Bài đã đăng trên Tạp chí Khoa học xã hội, số 6 (154), 2011, trang 62-67.
 

Thông Tin Nhân Học

Hình Ảnh Nhân Học

  • Khoa Nhân học
    Phòng 308-314 nhà A, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội
    336 Nguyễn Trãi, Thanh Xuân, Hà Nội
    Điện thoại: (84.4) 35575185/35579585; Fax:(84.4) 35575185

    phòng khám răng uy tin | Thi công PCCC | Thi công PCCC

    invisible hit counter