Chân dung
PGS.TS.NGƯT. Lê Sỹ Giáo PDF. In Email
Chân dung nhà nhân học - Chân dung
Thứ hai, 12 Tháng 10 2015 21:21
Phó Giáo sư, Tiến sĩ, Nhà giáo Ưu tú Lê Sĩ Giáo Trong hơn 40 làm công tác nghiên cứu và giảng dạy, ông tập trung sâu vào một số lĩnh vực như: Dân tộc học nông nghiệp, các dân tộc ngóm ngôn ngữ Tày - Thái ở Việt Nam, quan hệ tộc người, các dân tộc ở châu Á. Thành quả lao động miệt mài mà ông đóng góp cho ngành Dân tộc học là vô cùng ấn tượng: trên dưới 100 công trình, bao gồm giáo trình Dân tộc học đại cương, sách chuyên khảo, bài tạp chí, báo cáo khoa học cho các hội thảo trong và ngoài nước. Những kỷ niệm nhớ mãi Viết lời giới thiệu về một nhà khoa học là một việc khó, giới thiệu về chính thầy mình lại là một việc khó hơn, nhất là khi xét về tuổi đời và tuổi nghề, tôi cách ông cả một chặng đường dài. Theo hồ sơ giấy tờ, ông sinh năm 1949. Theo sách tử vi, người tuổi này thường có tính nóng nhưng mau nguội. Sau hơn 20 năm được làm học trò của ông, tôi nghiệm ra nhận định này không hẳn đúng, chí ít là với ông. Tôi không hẳn nghĩ ông là người nóng tính. Có lẽ nghiêm nghị, bộc trực sẽ diễn tả chính xác hơn tính cách con người ông. Giống như tiền nhân, ông tin rằng “Dưỡng bất giáo, phụ chi quá. Giáo bất nghiêm, sư chi nọa” [Nuôi không dạy, lỗi ở cha; Dạy không nghiêm, lỗi ở thầy]. Có lẽ vì thế mà trong mắt học trò (ít nhất là từ thế hệ tôi trở về trước), ông là một người thầy nghiêm nghị, nghiêm khắc. Ấy nhưng, dù ông có cố giấu thế nào, tôi vẫn cảm nhận được chữ “tình” trong thái độ nghiêm khắc với học trò. Cuối năm 1997, khi làm luận văn tốt nghiệp đại học, tôi có may mắn được ông làm thầy hướng dẫn. Sự non nớt về kinh nghiệm khiến tôi cứ “hồn nhiên” đi thực tế trước khi thông qua đề cương nghiên cứu. Thực tình thì thời điểm đó, không hiểu vì sao tôi lại quên mất một thao tác rất căn bản này. Có lẽ tâm lí háo hức được đi xa, được “làm khoa học” của một gã sinh viên nghĩ mình sắp thành “người lớn”, hoặc có lẽ sự thôi miên, cuốn hút của vẻ đẹp thiếu nữ Thái xứ Tây Bắc (mà tôi mường tượng qua bài giảng của ông và các thầy khác) khiến tôi như bị “bỏ bùa”, tức tốc “một ba lô” rời Hà Nội ngay kì nghỉ Tết Nguyên đán, ngược đường lên Mường So, Phong Thổ của xứ Thái Trắng Lai Châu. Sau một tháng thực địa, về đến Hà Nội, tôi vẫn cứ ung dung chả “ngó ngàng” gì đến thầy. Thế rồi, một buổi tối muộn, tôi gặp thằng bạn cùng lớp, cùng thầy hướng dẫn, nó đơ đơ như mới mất học bổng. Nó lôi tôi ra quán phở bà Chi béo, gọi chai rượu và xin ít xương còn xót ở đáy nồi nước dùng (mà chúng tôi hay gọi là xương “cải mả”). Nó bảo, “Tao chết rồi”, thầy “phang” ghê quá. Trước khi đi, đã thông qua đề cương, báo cáo với thầy, viết hết sức rồi mà vẫn bị phê bút “đỏ lòm”. Thú thực, tôi không bao giờ quên cảm giác rùng mình lúc ấy. Thương bạn thì ít, lo cho mình thì nhiều. Rồi hôm mang luận văn đến nộp, thầy giận ra mặt khiến cả tuần sau tôi như ngồi trên đống cát nóng. Cứ ngỡ phen này có khi “nhục” hơn cả ông bạn kia. May thay, sau khi đọc luận văn, thầy chỉ trách tôi thật nhẹ nhàng “Cậu viết được đấy, giá mà làm việc với tôi trước khi đi thực địa thì còn tốt nữa…”. Chỉ một câu nói ấy, tôi hiểu được tấm lòng của ông với mình, với học trò. Sau này, tôi cũng biết, ông cũng đã âm thầm giúp đỡ nhiều người, bằng cách này hay cách khác. Dù rằng, không ít trường hợp, chẳng hiểu vì sao người ta đã “quên nhẹ nhàng” những ân tình ấy. Chả mấy khi ông bận lòng và tôi cũng chưa hề nghe thấy ông trách móc ai cả. Ấn tượng bên ngoài dễ làm người mới gặp nghĩ ông là một người khó tính, khô khan. Chỉ thật tinh ý, thật chịu khó quan sát và thật gần gũi thì mới hiểu, thực ra ông là người sống nội tâm, tình cảm. Có lẽ chính vì thế, ông đã có một khoảng thời gian khá “lặng” trong cuộc đời sau khi người tri kỉ của ông qua đời. Ngày ấy, có lần chúng tôi đến thăm, mấy thầy trò ngồi lặng lẽ bên vài chai bia mà cả tiếng không hết, cứ nhấc lên đặt xuống. Những lúc ấy, ánh mắt ông thật buồn, như bị hút về một điểm vô hình nào đó. Có người bảo sao mà ông si tình và mềm yếu quá. Tôi thì không nghĩ vậy. Ông là người nặng tình thì đúng hơn. Người ta có thể điều khiển lí trí chứ ai sai bảo được con tim trên cõi đời này? Có một điều tôi nghĩ sách tử vi đúng, chí ít là với ông. Đó là người được cho là thông minh, hoạt ngôn. Nếu đọc các bài ông viết, dễ thấy một cách tư duy hệ thống rành mạch, lối hành văn chính xác mà dí dỏm, cách dùng từ vừa khoa học vừa rất “đời”. Tôi rất thích với lối hành văn “tưng tửng” của ông, một cách viết khiến người đọc, người nghe không chán tai, khiến người ta phải ngẫm trước khi có thể hiểu thấu đáo, một cách viết nếu không đủ “bút lực” sẽ dễ rơi vào xáo mòn… Ông cũng là người có lối diễn đạt hóm hình, luôn “cù” người khác bằng ngôn từ, bằng lối nói nhấn nhá không phải ai cũng có được. Hồi đại học, lũ học trò chúng tôi “oải” nhất mỗi khi nghe các bài phát biểu dài “vô tận” trong những dịp hội hè. Ấy nhưng, những bài phát biểu của ông luôn mang lại tiếng cười sảng khoái, nhẹ nhàng cho người nghe. Ông rất khéo biến những khẩu hiệu “khô khan” trở nên mềm mại, gần gũi, hóm hỉnh. Những đóng góp với ngành Dân tộc học Trong số các giảng viên cơ hữu hiện nay của Bộ môn Nhân học, Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn, Đại học quốc gia Hà Nội, PGS.TS Lê Sỹ Giáo là người có thâm niên công tác nhiều nhất. Sau khi tốt nghiệp Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội năm 1973 (hệ 4,5 năm), ông được giữ lại Khoa Lịch sử làm giảng viên. Từ năm 1983 đến năm 1987, ông được cử đi học Nghiên cứu sinh tại Đại học Tổng hợp Leningrad thuộc Liên bang Xô Viết. Trong hơn 40 làm công tác nghiên cứu và giảng dạy, ông tập trung sâu vào một số lĩnh vực như: Dân tộc học nông nghiệp, các dân tộc ngóm ngôn ngữ Tày - Thái ở Việt Nam, quan hệ tộc người, các dân tộc ở châu Á. Thành quả lao động miệt mài mà ông đóng góp cho ngành Dân tộc học là vô cùng ấn tượng: trên dưới 100 công trình, bao gồm giáo trình Dân tộc học đại cương, sách chuyên khảo, bài tạp chí, báo cáo khoa học cho các hội thảo trong và ngoài nước. Ông cũng đã và đang hướng dẫn trên 20 nghiên cứu sinh, 20 học viên cao học, trên 70 sinh viên làm luận văn tốt nghiệp, trên 30 sinh viên làm báo cáo khoa học (trong đó có 2 người và nhóm sinh viên đoạt giải Ba của Bộ Giáo dục và Đào tạo). Không chỉ tham gia giảng dạy, ông có nhiều năm liền tham gia công tác quản lý: trên 10 năm làm Bí thư chi bộ Khoa Lịch sử, 8 năm làm Phó chủ nhiệm Khoa Lịch sử, 8 năm làm chủ nhiệm bộ môn Dân tộc học, 4 nhiệm kì tham gia Ban chấp hành Trung ương Hội Dân tộc học Việt Nam, một nhiệm kì làm tổng thư ký Hội Dân tộc học Việt Nam. Ông cũng là một trong 4 người sáng lập Chương trình Thái học (cùng với các học giả Cầm Cường, Cầm Trọng và Hoàng Lương). Với những đóng góp toàn diện như thế, ông đã nhận được Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ năm 2001 vì đã có nhiều thành tích trong công tác, góp phần vào sự nghiệp xây dựng CNXH và bảo vệ Tổ quốc; 2 Bằng khen của Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội (1999: đã có thành tích xuất sắc trong đào tạo, giáo dục, xây dựng và phát triển Đại học quốc gia Hà Nội; 2001: đạt danh hiệu Cán bộ giảng dạy giỏi cấp cơ sở năm học 1999-2000)… Đặc biệt năm 2012, ông được trao tặng danh hiệu Nhà giáo ưu tú, một sự ghi nhận chính xác cho những đóng góp trong sự nghiệp hơn 40 năm “trồng người”. Hơn 40 năm làm thầy, làm khoa học, cuộc đời của PGS.TS.Lê Sỹ Giáo dường như có thể chia thành hai gian đoạn. Giai đoạn đầu là từ lúc ông khởi nghiệp đến giữa những năm 2000. Đây là khoảng thời gian mà hình ảnh một người thầy mẫu mực, nghiêm khắc, một nhà khoa học cẩn trọng, sắc sảo hiện rõ. Giai đoạn 2 từ giữa những năm 2000 đến nay, người ta thấy một “sức sống mới” trỗi dậy trong ông. Công việc và cuộc sống của ông trở nên “đời” hơn. Dường như sau bao thăng trầm của cuộc đời, ông đã “ngộ” ra được “lẽ sống” cho mình. PHÓ GIÁO SƯ, TIẾN SĨ, NHÀ GIÁO ƯU TÚ LÊ SỸ GIÁO Năm sinh: 1949. Quê quán: Thanh Hóa. Tốt nghiệp đại học tại Khoa Lịch sử (Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội) năm 1973. Chuyên ngành được đào tạo: Dân tộc học Nhận bằng Tiến sỹ chuyên ngành Dân tộc học (Trường  Đại học Tổng hợp Leningrad, Liên Xô) năm 1987. Được công nhận chức danh Phó Giáo sư năm 1992. Được tặng danh hiệu Nhà giáo Ưu tú năm 2012. Thời gian công tác tại trường: 1974-nay. + Đơn vị công tác: Khoa Lịch sử (1974-2010). Khoa Nhân học (2010-2015). + Chức vụ quản lý: Phó Chủ nhiệm Khoa Lịch sử (1996-2004). Chủ nhiệm Bộ môn Nhân học Văn hóa (2015-nay). Các hướng nghiên cứu chính: Các dân tộc ngôn ngữ Thái ở Việt Nam; Dân tộc học nông nghiệp; Thành phần tộc người và quan hệ dân tộc ở Việt Nam; Dân tộc học đại cương. Các công trình khoa học tiêu biểu: + Giáo trình Dân tộc học đại cương (chủ biên) (tái bản 18 lần). Nguồn: http://www.ussh.vnu.edu.vn/d4/news/Nguoi-thay-nghiem-khac-ma-chi-tinh-1-12386.aspx
 
GS.TS. Đặng Nghiêm Vạn PDF. In Email
Chân dung nhà nhân học - Chân dung
Thứ tư, 19 Tháng 8 2015 20:45
Đường đời, đường khoa học Đặng Nghiêm Vạn nhiều lần bị những thiên thạch ngẫu nhiên va chạm phải làm thay đổi quỹ đạo. Đang học trường Bưởi thì Cách mạng tháng Tám bùng nổ, ông hăng hái tham gia hoạt động. Rồi toàn quốc kháng chiến, 16 tuổi đầu, ông xếp bút nghiên đánh giặc tại khu phố, rồi rút ra khỏi Thủ đô lên Việt Bắc, để lại một “kinh thành nghi ngút cháy sau lưng”. Những tưởng được thỏa chí trai “Ta tráng sĩ hề một thời loạn lạc/ Như cá gặp nước hề ta vẫy vùng”. Nhưng tháng 4 năm 1947, tổ chức lại cử ông đi học trường Trung học Kháng chiến để tạo nguồn. Năm 1950, tốt nghiệp xuất sắc ban sinh hóa, ông được cử làm giáo viên trường Sư phạm Trung ương. Thế là, một lần nữa, ông chuyển từ cây súng sang cây bút, làm nghề dạy học. Năm 1958, khi đang làm Hiệu trưởng trường Sư phạm Miền núi Trung ương, Đặng Nghiêm Vạn được cử sang Liên Xô học về giáo dục học các dân tộc thiểu số, hẳn để ông phát huy hơn nữa sự nghiệp giáo dục dân tộc miền núi. Nhưng Sứ quán ta nghe/đọc nhầm hoặc cố tình nhầm (ai mà biết được!) lại cho ông học Dân tộc học tại Đại học Tổng hợp Quốc gia Lômônôxốp. Thế là một sự tình cờ nữa lại đưa ông đến một nghề mới: nghiên cứu dân tộc học. Về điều này, ông vẫn thường đùa rằng cái nghề mà ông suốt đời lao tâm khổ tứ cũng lại chỉ là một sự tình cờ. Năm 1963, Đặng Nghiêm Vạn về nước giảng dạy tại Khoa Sử Đại học Tổng hợp Hà Nội, Bộ môn Dân tộc học (nay là Khoa Nhân học). Ông vừa giảng dạy vừa nghiên cứu. Địa bàn thực địa của ông là miền núi phía Bắc, Tây Bắc và Tây Khu Bốn. Trong những chuyến đi điền dã dân tộc học như vậy, Đặng Nghiêm Vạn đã phát hiện ra sự có mặt ở người Khơ Mú một hình thức của tô tem giáo. Rồi nhân một chuyến đi viết lịch sử Đảng cho một xã ở Đại Từ, Thái Nguyên, ông phát hiện ra gia phả dòng họ Lưu Nhân Chú có những tư liệu khẳng định Nguyễn Trãi tham gia khởi nghĩa Lam Sơn rất sớm. Năm 1967, Đặng Nghiêm Vạn chuyển sang Viện Dân tộc học. Các tộc người Môn-Khơme và Thái được ông đặc biệt quan tâm. Bởi thế ông lại tiếp tục lăn lộn ở Tây Bắc và miền Tây các tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An, Quảng Bình. Sau 1975, ông mở rộng địa bàn của mình xuống các tộc người Trường Sơn- Tây Nguyên. Cũng trong giai đoạn này, Đặng Nghiêm Vạn cho xuất bản nhiều tác phẩm quan trọng trong sự nghiệp của ông. Vì thế, năm 1991 ông được Nhà nước phong hàm Giáo sư. Và cũng trong năm này, do nhu cầu thành lập ngành mới, ông lại rời ghế Viện phó Viện Dân tộc học đã ấm chỗ và những công việc quen thuộc để sang làm Trưởng ban Khoa học về Tôn giáo vừa thành lập. Từ Ban, rồi Trung tâm, rồi đến Viện Nghiên cứu Tôn giáo, cả ba giai đoạn này Đặng Nghiêm Vạn đều là người đứng đầu. Đến năm 1999, khi Tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo ra mắt, lại ông làm Tổng biên tập. Là người đứng mũi chịu sào trong việc xây dựng một viện mới và, quan trọng hơn, ngành khoa học mới, nhạy cảm, Đặng Nghiêm Vạn, có lẽ là một người biết chèo chống, nên chỉ trong một thời gian ngắn, 1991-2000, ông và Viện ông đã thực hiện được nhiều công trình về nghiên cứu tôn giáo. Sự tình cờ còn chi phối Đặng Nghiêm Vạn ngay cả khi ông đã là nhà dân tộc học. Vấn đề là chọn tộc người nào để nghiên cứu. Là một người Việt, dẫu sinh ra ở biển (Cát Bà, Quảng Ninh), lớn lên ở thành phố (Hà Nội), hoạt động ở miền núi, Đặng Nghiêm Vạn một cách tự nhiên cảm tính muốn nghiên cứu tộc người Việt thân thuộc của mình. Nhưng S.A Tôcarép, người thầy kính mến của ông bảo, nếu nghiên cứu người Việt thì ông dễ chỉ thấy mặt tốt của nó, bởi người mới vào nghề thì chưa đủ kinh nghiệm và bản lĩnh để nhìn mình bằng con mắt của kẻ khác. Bởi thế, nên chọn một tộc người thiểu số nào đó mà mình thân thuộc nhất. Thế là, để tránh nhìn vào một chiếc gương nịnh mặt, Đặng Nghiêm Vạn lại trở về với vùng Tây Bắc và Việt Bắc quen biết của ông. Theo lời khuyên của thầy học, Đặng Nghiêm Vạn chọn người Thái làm đối tượng nghiên cứu, bởi lẽ trong thời gian quản lý ở trường Sư phạm Miền núi, ông quen thân với nhiều học sinh Thái hơn. Nhưng muốn nghiên cứu sâu Thái phải lấn sang Tày Nùng để có tư liệu đối chiếu. Bởi thế, sau tập sách nghiên cứu diện Sơ lược giới thiệu các dân tộc Tày-Nùng-Thái ở Việt Nam cùng viết với Lã Văn Lô (phần chung và phần Thái, 1968) là cuốn sách điểm Tư liệu lịch sử và xã hội dân tộc Thái (1977). Đây là những công trình mở đường vào xã hội Thái. Những cuốn sách đẻ ra sách. Đúng thế, những cuốn sách trên của Đặng Nghiêm Vạn đã nuôi ý tưởng cho những cuốn sách khác, cũng về Thái, của Cầm Trọng Người Thái ở Tây Bắc Việt Nam (1978), Văn hóa Thái Việt Nam (1985)... Như vậy, Đặng Nghiêm Vạn đã trở thành một nhà Thái học, bởi ông là người đầu tiên phát hiện và giới thiệu bộ luật Thái, và khẳng định phương thức sản xuất Châu Á ở xã hội Thái. Sang năm 1975, mảnh đất mới của Đặng Nghiêm Vạn là Trường Sơn- Tây Nguyên. Đây là một mảnh đất màu mỡ của tộc người học. Các tộc người ở đây thuộc đủ các ngữ hệ Nam Á, Nam Đảo... thuộc đủ các trình độ phát triển. Bởi thế, bức thổ cẩm nhiều màu sắc, lắm hoa văn này gợi lên ở nhà dân tộc học biết bao suy nghĩ, tham vọng. Nhưng do nhu cầu điều tra tổng thể vùng Trường Sơn- Tây Nguyên, nên Đặng Nghiêm Vạn chỉ có thể đưa ra một cái nhìn khái quát trong Các dân tộc ở Gia Lai- Kom Tum (1981) những bài tổng luận về kinh tế xã hội Tây Nguyên trong 2 cuốn Những vấn đề kinh tế xã hội Tây Nguyên và Tây Nguyên trên đường phát triển (1986 và 1987) hoặc Những ai lên Tây Nguyên cần biết (1988)... Còn điều mà ông tha thiết nhất là nghiên cứu tôn giáo sơ khai được ấp ủ từ hồi còn dưới cánh S.A. Tôcarép và tận mắt thấy hiện hữu ở Tây Nguyên thì cứ lùi xa, lùi xa kể cả khi ông đã chuyển sang nghiên cứu tôn giáo, dẫu ông lại sớm thành công với tư cách nhà dân tộc học khi sớm phát hiện ra vẫn đề sở hữu đất đai ở Trường Sơn- Tây Nguyên (1988). Là người ủng hộ việc nghiên cứu Việt Nam như một dân tộc đa tộc người, Đặng Nghiêm Vạn buộc phải giải quyết một số vấn đề có tính lý luận sau: 1) Phải phân biệt dân tộc (Nation) và tộc người (Ethnie); 2) Phải thừa nhận tính chất không phổ quát của định nghĩa dân tộc của Stalin và 3) Phải chứng minh được sự tồn tại các dân tộc tiền công nghiệp hay tiền tư  bản ở các xã hội phương Đông, trong đó có Việt Nam. Đây là cơ sở để coi dân tộc Việt Nam như một thể hợp thành từ xa xưa của 54 tộc người sống trên mảnh đất này. Đặng Nghiêm Vạn, tôi nghĩ, đã làm được điều đó trong tác phẩm Quan hệ giữa các tộc người trong một quốc gia dân tộc (1993) được Giải thưởng Nhà nước. Sau khi nghỉ hưu, ông vẫn phát triển cuốn sách đó sâu rộng hơn, nâng số trang đến gấp 2 lần thành: Cộng đồng quốc gia dân tộc Việt Nam đa tộc người (2003). Nhưng có lẽ, điều quan trọng hơn, là tìm được một cách tiếp cận tổng thể trong nghiên cứu dân tộc Việt Nam, tránh được con đường tổng hợp, thậm chí tổng cộng, 54 tộc người. Con đường thứ hai mà Đặng Nghiêm Vạn muốn tìm kiếm là xây dựng và chứng minh có một tôn giáo Việt Nam của Việt Nam. Đó là Đạo Tổ. Sở dĩ ông dùng chữ đạo vì, theo ông, Việt Nam không có khái niệm tôn giáo theo đúng nghĩa của phương Tây: thờ một đấng tối cao duy nhất. Đạo ở phương Đông và ở Việt Nam còn vắng các tôn giáo độc thần, vẫn còn là những tôn giáo đa thần. Đạo Tổ có ba cấp độ: 1)Gia đình: thờ cúng tổ tiên của gia đình và của dòng họ (gia đình mở rộng); 2)Làng bản: thờ cúng thành hoàng, người bảo trợ cho làng bản và 3)Quốc gia: thờ cúng người có công dựng nước và giữ nước. Ở cả ba cấp độ này, đều có ở tất cả những tộc người sinh sống trên đất Việt Nam. Ông còn nêu ra một nhận xét đáng lưu ý: ở phương Tây chỉ tôn thờ Đứa Chúa Trời, còn ở phương Đông thì tất cả đều là đối tượng thờ cúng. Công với gia đình thì con cháu thờ; công với làng, làng thờ; công với nước, nước thờ. Vậy nên, xưa nay ở Châu Âu trọng ngày sinh, ở châu Á, ngày giỗ... tính nhân văn còn biểu lộ rõ rệt ở việc thờ những người chết bất đắc kỳ tử, những người không được xã hội thừa nhận, không được con cháu thờ cúng. Cuối cùng, con đường thứ ba mà Đặng Nghiêm Vạn muốn xây đắp là tìm hiểu những huyền thoại, truyền thuyết của các tộc người về nguồn gốc tộc người mình. Ông đã tìm thấy ở hầu như tộc người nào cũng cặp đôi ban đầu, trong đó có huyền thoại về quả bầu như là nơi sản sinh ra không chỉ tộc người đó mà còn các tộc người anh em khác. Sự thống nhất này một mặt cho thấy các tộc người trên mảnh đất Việt Nam hầu hết đã qua nền “văn minh bầu bí” trước văn minh trồng lúa và, quan trọng hơn, có chung một nguồn gốc. Tâm thức này làm cho các tộc người dễ hợp lưu để trở thành đồng bào của một dân tộc. Ông cũng đồng thời tổng kết vốn văn học dân tộc thiểu số đến năm 2000, in trong Tổng tập văn học Việt Nam và trong Tổng tập văn học các dân tộc thiểu số Việt Nam đều là khổ to. Ở đây ông không chấp nhận văn học khuyết danh là thuộc phạm trù dân gian, mà phải dựa vào chân giá trị của tác phẩm vì nếu cho là dân gian thì chỉ duy ở Việt Nam có văn học bác học, còn về mỹ thuật (theo Thái Bá Vân), hội họa (Lưu Công Nhân) đều là dân gian ư? Nên ông đồng tình với Từ Chi là có nên gọi là dân gian hay không dân gian? Thành công học thuật của Đặng Nghiêm Vạn phụ thuộc vào cá nhân ông một phần và phần khác, quan trọng hơn, vào những đặc điểm của lứa con đầu của cách mạng trong lĩnh vực khoa học, mà ông là một người tiêu biểu. Đó là một người cán bộ khoa học có một tinh thần trách nhiệm rất cao. Được phân công việc gì cũng làm kể cả việc làm khoa học vốn đòi hỏi những khả năng trời cho và luôn luôn vươn lên đáp ứng các nhu cầu của các mạng, của xã hội, của thời cuộc. Đỗ Lai Thúy Nguồn: http://tiasang.com.vn/Default.aspx?tabid=62&News=997&CategoryID=32
 
Người trọn đời vì sự nghiệp giáo dục và phát triển ngành Nhân học PDF. In Email
Chân dung nhà nhân học - Chân dung
Thứ hai, 10 Tháng 8 2015 20:45
GS.TS.NGND Phan Hữu Dật tại Lễ mừng thọ 80 tuổi của thầy Trên nửa thế kỷ qua, với tư cách là nhà giáo, nhà khoa học, GS.TS.NGND Phan Hữu Dật đã dành toàn bộ tâm huyết với ngành Nhân học. Đồng nghiệp và học trò tìm thấy ở ông trí tuệ mẫn tiệp, sự lao động miệt mài sáng tạo và cái tâm sáng của một nhà khoa học, nhà giáo chân chính. Năm 1954, ông được cử đi học tại Đại học Văn khoa Hà Nội. Chính GS. Trần Văn Giàu đã khuyên ông theo học nghề Dân tộc học, Dân tộc học đã trở thành nghiệp đời của ông từ đó. Sau khi tốt nghiệp đại học loại ưu, ông được chuyển tiếp làm nghiên cứu sinh với đề tài: “Các dân tộc nói tiếng Môn-Khơ me ở miền Bắc Việt Nam”. Luận án đã được bảo vệ năm 1963 tại Đại học Tổng hợp Lômônôxốp. Đây là luận án tiến sĩ chuyên ngành Dân tộc học đầu tiên của một nghiên cứu sinh Việt Nam được bảo vệ ở nước ngoài dưới chế độ dân chủ cộng hòa. Trên hành trình Dân tộc học, dấu chân của ông đã có mặt trên nhiều vùng đất của tổ quốc, từ địa đầu Lũng Cú (Hà Giang) cho đến Xóm Mũi (Cà Mau). Là học trò của ông cách đây trên 30 năm, tôi có may mắn được nghe ông kể không ít kỷ niệm điền dã về nhiều tộc người với nhiều hương vị và kỷ niệm không thể nào quên, từ món thắng cố, mèn mén của người Hmông ở cao nguyên Đồng Văn đến âm vang trống đồng của người Lô Lô trên đỉnh Lũng Cú, từ hương vị măng chua nấu với nhái, đặc sản xứ Mường vùng Tây Bắc đến món cơm pồi của người Dục vùng Trường Sơn, về nồi cháo gà thơm ở bản Chòm Lòm vùng miền Tây Quảng Bình vẫn còn nguyên bộ lòng chưa kịp làm... Ông kể về lần gặp Bác Hồ và câu hỏi của Người về Xá lá Vàng là kỷ niệm không bao giờ phai mờ, đã tiếp thêm sức mạnh cho ông trên bước đường nghiên cứu. GS.TS.NGND Phan Hữu Dật Trên nửa thế kỷ tham gia giảng dạy và nghiên cứu khoa học, GS. Phan Hữu dật đã trở thành một trong những giáo sư đầu ngành về Nhân học. Những công trình nghiên cứu của ông tập trung vào những nội dung như: Các vấn đề lý luận về tộc người, về cộng đồng quốc gia dân tộc và lý thuyết Nhân học; Văn hóa các dân tộc ở Việt Nam, Văn hóa và phát triển; Quá trình tộc người và mối quan hệ dân tộc ở Việt Nam, Đông Nam Á và trên thế giới; Dân tộc học và chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước ta dưới ánh sáng tư tưởng Hồ Chí Minh; Lịch sử hôn nhân và gia đình. Trên 100 công trình nghiên cứu đã được công bố của GS. Phan Hữu Dật đề cập đến các vấn đề cốt lõi trong nghiên cứu Dân tộc học, từ các vấn đề lý thuyết trong nghiên cứu đến việc tổng kết các vấn đề nghiên cứu trong Dân tộc học ở nước ta; từ Dân tộc học Việt Nam đến các vấn đề dân tộc học trên thế giới; từ văn hóa và phát triển đến yêu cầu đào tạo và nghiên cứu Dân tộc học phục vụ cho việc hoạch định và thực hiện đường lối, chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước; từ mối quan hệ dân tộc và những vấn đề cấp bách ở nước ta và trên thế giới đến vấn đề dân tộc trong toàn cầu hóa; từ việc đẩy mạnh nghiên cứu các ngành khoa học xã hội- nhân văn đến nghiên cứu ứng dụng... Các công trình nghiên cứu của ông, dù trong lĩnh vực nào, cũng đảm bảo sâu sắc về mặt lý luận, tính nguyên tắc về tư tưởng, ý nghĩa thực tiễn về mặt áp dụng. Với tư cách là một trong những nhà Dân tộc học đầu ngành, những vấn đề nghiên cứu của ông đã đặt nền tảng cho sự phát triển của nền Dân tộc học Việt Nam. Ông là người Việt Nam đầu tiên soạn giáo trình “Cơ sở Dân tộc học” (1973) phục vụ cho việc nghiên cứu và giảng dạy. Trong thập kỷ 90 của thế kỷ XX, nhiều công trình nghiên cứu của ông đã tiếp tục đề cập đến những yêu cầu nghiên cứu Dân tộc học theo hướng Nhân học trên cơ sở những thành tựu nghiên cứu và nhận thức mới trước yêu cầu phát triển của đất nước, hội nhập khu vực và quốc tế. Trên nền tảng nghiên cứu cơ bản, những công trình nghiên cứu khoa học của GS. Phan Hữu Dật đã đặc biệt chú trọng nghiên cứu cũng như tổng kết về lý luận và chính sách dân tộc ở nước ta trong lịch sử và hiện tại. Từ rất sớm, ông đã đề nghị bổ sung nguyên tắc giúp nhau cùng phát triển trong các nguyên tắc cơ bản về chính sách dân tộc và nguyên tắc này đã được thể hiện trong Văn kiện Đại hội IX Đảng Cộng sản Việt Nam. Xuyên suốt trong các công trình nghiên cứu của ông là vấn đề xem xét mối quan hệ dân tộc, từ lý luận đến thực tiễn. Ông đã dày công nghiên cứu những bài học kinh nghiệm trên thế giới và chỉ ra những đặc điểm trong mối quan hệ dân tộc ở nước ta, đồng thời đưa ra những đề xuất có tính thuyết phục nhằm tăng cường hơn nữa mối quan hệ dân tộc hiện nay. Một trong những đóng góp rất quan trọng của GS. Phan Hữu Dật là nghiên cứu về cộng đồng các dân tộc ở Việt Nam, văn hóa và phát triển. Trên 30 công trình nghiên cứu của ông đã bao quát khá nhiều vấn đề trên lĩnh vực này. Có có thể coi công trình “Sự phát triển của các dân tộc thiểu số Việt Nam trong thế kỷ XX” là công trình mang tính tổng kết, có tính lý luận và thực tiễn cao. GS. Phan Hữu Dật cũng là người đầu tiên khái quát một cách đầy đủ nhất về những đặc điểm chủ yếu của cộng đồng các dân tộc ở nước ta. Ông cũng đã cùng giới thiệu nghiên cứu tham gia xây dựng các tiêu chí xác định thành phần các dân tộc ở Việt Nam. Những tiêu chí đó đã được đưa vào ứng dụng thực tiễn trong thập kỷ 70 của thế kỷ XX. Từ thập kỷ 60, 70 của thế kỷ trước, ông đã cùng góp sức cùng các nhà sử học và các khoa học xã hội nghiên cứu về thời đại dựng nước và giữ nước đầu tiên trong lịch sử Việt Nam: thời đại Hùng Vương. Những kết quả nghiên cứu của ông dưới góc độ Dân tộc học đã góp phần soi sáng về tính chất và thiết chế xã hội ở nước ta lúc bấy giờ cũng như vai trò của Văn hóa Lạc Việt trong nền văn hóa Đông Nam Á. Trong các công trình nghiên cứu của GS. Phan Hữu Dật, lịch sử và văn hóa của nhiều tộc người, từ các tộc người thuộc ngôn ngữ Thái đến các cư dân Môn-Khơme, từ các tộc người nói ngôn ngữ Hmông-Dao đến các tộc người thuộc nhóm ngôn ngữ Hán-Tạng, từ các cư dân Việt-Mường đến các cư dân thuộc ngữ hệ Nam Đảo...đã được thể hiện khá sinh động và có tính thuyết phục. Khi xem xét văn hóa cộng đồng các dân tộc Việt Nam, ông đã có những phân tích khá thuyết phục khi đặt văn hóa cộng đồng các dân tộc Việt Nam trong mối liên hệ văn hóa trong khu vực và thế giới. Những kết quả nghiên cứu này đã được trình bày tại nhiều trường đại học và các hội thảo quốc tế. Ông đã có những đóng góp rất quan trọng trong việc xây dựng mô hình bảo tồn và phát triển văn hóa các dân tộc ở nước ta trong mối liên hệ biện chứng giữa truyền thống và hiện đại. Khi xem xét văn hóa truyền thống các dân tộc, ông đã phân tích sâu sắc và chỉ ra các yếu tố văn hóa không gây trở ngại, cũng như những giá trị cũ đã lỗi thời, có thể gây trở ngại cho sự phát triển cần cải biến. Đồng thời, ông cũng chỉ ra những giá trị văn hóa của các tộc người có tính vĩnh cửu hay tương đối vĩnh cửu cần được bảo tồn để làm giàu cho văn hóa dân tộc và nhân loại. GS.TS.NGND Phan Hữu Dật phát biểu tại hội thảo quốc tế về phát triển ngành Nhân học tại Trường ĐHKHXH&NV năm 2010 Với tư cách là chuyên gia hàng đầu nghiên cứu về hôn nhân và gia đình, từ những năm 60 của thế kỷ XX, ông đã nghiên cứu về các hình thái hôn nhân của người Vân Kiều, tìm ra dấu vết liên minh ba thị tộc. Ông cũng đã đi sâu nghiên cứu dấu vết hệ thốngbốn hôn đẳng ở Tây Nguyên; các quy tắc cư trú trong hôn nhân cũng như chế độ song hệ; dấu vết bào tộc ở người Êđê với những phát hiện khoa học, mở ra hướng nghiên cứu mới trong việc nghiên cứu quá khứ của loài người, đồng thời góp phần tích cực trong việc thực hiện Luật Hôn nhân gia đình các dân tộc Việt Nam, xây dựng đời sống văn hóa mới, phù hợp với quy luật phát triển. Với cương vị là nhà giáo, ông đã tham gia đào tạo hàng nghìn cử nhân Dân tộc học và Sử học, hướng dẫn hàng chục nghiên cứu sinh bảo vệ thành công luận án tiến sĩ. Ông còn trực tiếp giảng dạy cho các lớp bồi dưỡng cán bộ tại Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Ủy ban Dân tộc, Hội đồng Dân tộc của Quốc hội cũng như các trường đại học... đồng thời tham gia giảng dạy các vấn đề dân tộc ở Việt Nam tại một số trường đại học trên thế giới như: Đại học Tổng hợp Lômônôxốp (Liên Xô), Đại học Humbolt (Đức) và nhiều hội thảo khoa học quốc tế. Ông đã công bố trên 100 công trình nghiên cứu, trong đó có 9 sách chuyên khảo, đáng chú ý như: “Văn hóa lễ hội của các dân tộc ở Đông Nam Á” (Chủ biên, 1992); “Lễ cầu mùa của các dân tộc ở Việt Nam” (Chủ biên, 1994); “Văn hóa Thái Việt Nam” (viết chung với Cầm Trọng, 1995); “Phương sách dùng người của cha ông ta trong lịch sử” (Chủ biên, 1998); “Một số vấn đề về Dân tộc học Việt Nam” (1998); “Góp phần nghiên cứu Dân tộc học Việt Nam” (2003)... Nhiều luận văn nghiên cứu của ông đã được công bố trong các chuyên san và tạp chí khoa học quốc tế có uy tín như: Dân tộc học Xô-viết (1961); ASEMI (1978), các kỷ yếu hội thảo quốc tế... bằng nhiều thứ tiếng như Anh, Pháp, Nga. Ông đã được cử làm chủ nhiệm hai đề tài khoa học cấp Nhà nước: Văn hóa Việt Nam trong sự phát triển sắc thái văn hóa vùng và tộc người (1990-1995); Những vấn đề lý luận và thực tiễn cấp bách liên quan đến các dân tộc và sắc tộc trên thế giới và ở nước ta hiện nay. Chính sách dân tộc của Đảng (1995-2000)... Nhà giáo, nhà khoa học Phan Hữu Dật là hình ảnh tiêu biểu của người trí thức cách mạng trưởng thành dưới nền dân chủ mới. Ông là một trong những người đã góp phần làm rạng danh cho nền đại học và khoa học nước nhà nói chung và Đại học Quốc gia Hà Nội nói riêng. GIÁO SƯ, TIẾN SĨ, NHÀ GIÁO NHÂN DÂN PHAN HỮU DẬT Năm sinh: 1928. Quê quán: Thừa Thiên - Huế. Tốt nghiệp đại học chuyên ngành Dân tộc học, tại Khoa Lịch sử (Trường Đại học Quốc gia Mạc Tư Khoa Lômôlôxốp, Liên Xô) năm 1961. Nhận bằng Phó Tiến sĩ Sử học (Tiến sĩ) tại Khoa Lịch sử (Đại học Quốc gia Mạc Tư Khoa Lômôlôxốp, Liên Xô) năm 1963. Được công nhận chức danh Phó Giáo sư năm 1980. Được công nhận chức danh Giáo sư năm 1996. Được tặng danh hiệu Nhà giáo Ưu tú năm 1992. Được tặng danh hiệu Nhà giáo Nhân dân năm 2008. Thời gian công tác tại trường: 1964-2000. + Đơn vị công tác: Khoa Lịch sử. + Chức vụ quản lý: Chủ nhiệm Khoa Lịch sử, Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội (1970 - 1975). Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội (1977 - 1981). Quyền Hiệu trưởng Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội (1981 - 1985). Hiệu trưởng Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội (1985 - 1988). Các hướng nghiên cứu chính: Chính sách dân tộc của Đảng cộng sản Việt Nam; Mối quan hệ giữa các dân tộc ở Việt Nam; Xã hội Nguyên thủy; Hôn nhân và gia đình ở các dân tộc Việt Nam; Văn hóa và Phát triển ở Việt Nam. Các công trình nghiên cứu tiêu biểu: Cơ sở Dân tộc học, NXB Đại học và Trung học chuyên nghiệp, năm 1973. Một số vấn đề về Dân tộc học Việt Nam, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, năm 1998. Sắc thái văn hóa địa phương và tộc người trong chiến lược phát triển đất nước (Viết chung), NXB Khoa học Xã hội (1998). Mấy vấn đề lý luận và thực tiễn cấp bách liên quan đến mối quan hệ dân tộc hiện nay, NXB Chính trị quốc gia, 2001. Chính sách dân tộc của các chính quyền nhà nước phong kiến Việt Nam (X – XIX) (Viết chung), NXB Chính trị Quốc gia, 2001. Góp phần nghiên cứu Dân tộc học Việt Nam, NXB Chính trị Quốc gia, 2004. Các giải thưởng khoa học tiêu biểu: + Giải thưởng Nhà nước về Khoa học và Công nghệ năm 2005 với công trình Một số vấn đề về Dân tộc học Việt Nam (1998). + Giải thưởng của Hội Dân tộc học Việt Nam. + Giải thưởng Báo chí của Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. PGS.TS. Lâm Bá Nam Nguồn:http://www.ussh.vnu.edu.vn/d4/news/Nguoi-tron-doi-vi-su-nghiep-giao-duc-va-phat-trien-nganh-Nhan-hoc-1-12126.aspx
 
The Song of the Ethnologist written by Prof Phan Hữu Dật PDF. In Email
Chân dung nhà nhân học - Chân dung
Chủ nhật, 09 Tháng 8 2015 14:58
Pack on your shoulder A stick in your hand On the road to the field Come on, colleagues. We go up to the Northwest Mountains We go down to the central highlands Ethnic compatriots Calling to us from hundreds of regions. The road is wide for trucks And little paths wear out our feet If there’s no road we must clear one Across jungles and streams. Who is still gathering Who is building rice terraces Who is tilling the earth with buffalo’s strength Who is doing dry rice farming. We sleep in stilt houses We rest on roof and rock Long houses, communal houses Our country has them all. We eat bamboo tube rice216 We eat “thắng cố”217 Small bottles we try Delicious homemade rice wine. We listen to the story of Đam San Who gave birth to the land and the water Living in tumultuous times218 The golden turtle, the iron horse. We watch the Cầu Ngư festival219 We attend the Buffalo Sacrifice Ca-tê and Cấp sắc And we attend the Ghe ngo festival.220 We go down to Khánh Sơn We hear the lithophone We go up to Lũng Cú We follow the sounds of the bronze drum. Who plays the spring swing game The earth and sky switch positions Who throws the ball And turns into the rainbow of fire. Here is the custom of Chuê-nuê And the pulling of the wife Now the custom of returning home And the ritual of leaving the tomb. We go up to Kon Tum And meet hero Núp We go down to Thừa Thiên And talk with Kan Lịch. This changing life We recall earlier generations Those days between crop periods We can’t see the sun. Receiving the earth and the jungle We teach where to place the garden Reduce poverty and end hunger Not to wander aimless anymore. Study characters Read the newspapers, listen to the radio Go to work as cadres Build a new life. Oh geologist brothers221 Where are you going in a hurry Stay here and rest a while And then we’ll go together. The fatherland is huge Our homeland’s brocade Our compatriots In 100 directions and 1,000 colors. Pack on your shoulder A stick in your hand On the road to the field Come on colleagues! Hà Nội, 1999 Translated by Margaret Barnhill Bodemer. Source: Margaret Barnhill Bodemer 2010. 'Museums, ethnology and the politics of culture in contemporary Vietnam'. PhD dissertation. The University of Hawaii.
 
GS. Đặng Nghiêm Vạn PDF. In Email
Chân dung nhà nhân học - Chân dung
Thứ tư, 05 Tháng 8 2015 21:19

I. Sơ lược lí lịch Năm sinh: 1930 Chức danh: Giáo sư Thời gian công tác tại  Khoa Nhân học (Bộ môn Dân tộc học trước đây): 1963 -1967 II. Các công trình khoa học Đại cương về các nhóm dân tộc thuộc ngôn ngữ Tày – Thái ở Việt Nam trước Cách mạng tháng Tám. Thông báo Khoa học Sử học, tập 2, Đại học Tổng hợp Hà Nội, 1961. Sơ lược về sự thiên di của các bộ tộc Thái vào Tây Bắc Việt Nam (viết chung). Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử, số 78, 1965. Những hoạt động của Hoàng Công Chất trong thời kì ở Tây Bắc (viết chung). Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử, số 81. Vấn đề An Dương Vương và lịch sử dân tộc Tày ở Việt Nam (viết chung). Thông báo Khoa học Sử học, tập 2, 1966. Vài ý kiến về vấn đề đối tượng của Dân tộc học. Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử, số 97, 1967. Truyền thống chống xâm lăng của Điện Biên trong lịch sử (viết chung). Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử, số 102, 1967. Tìm thấy gia phả của dòng họ Lưu Nhân Chú. Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử, số 105, 1967.

 
JPAGE_CURRENT_OF_TOTAL

Thông Tin Nhân Học

Hình Ảnh Nhân Học

  • Khoa Nhân học
    Phòng 308-314 nhà A, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội
    336 Nguyễn Trãi, Thanh Xuân, Hà Nội
    Điện thoại: (84.4) 35575185/35579585; Fax:(84.4) 35575185

    phòng khám răng uy tin | Thi công PCCC | Thi công PCCC

    invisible hit counter